Đau cột sống cổ là do nhiều nguyên nhân gây nên, có thể là do bệnh lý nào đó của cơ thể, cũng có thể là do tư thế lao động sinh hoạt không phù hợp. Dự phòng và điều trị đau cột sống cổ như thế nào là thông tin cần thiết đối với mỗi người để biết cách bảo vệ cột sống cổ của mình.

Đau cột sống cổ

Đau cột sống cổ

Đau cột sống cổ

Thoái hóa cột sống cổ là bệnh lý mạn tính khá phổ biến, tiến triển chậm, thường gặp ở người lớn tuổi và/hoặc liên quan đến tư thế vận động. Tổn thương cơ bản của bệnh là tình trạng thoái hóa sụn khớp và/hoặc đĩa đệm ở cột sống cổ. Có thể gặp thoái hóa ở bất kỳ đoạn nào song đoạn C5-C6-C7 là thường gặp nhất.

Bệnh do nhiều nguyên nhân, thường xảy ra ở người lớn, đặc biệt từ trên 40 tuổi, làm ảnh hưởng nhiều đến năng xuất lao động xã hội. tỷ lệ mắc bệnh đĩa đệm cột sống cổ chiếm 36,1%, đứng thứ hai sau bệnh lý đĩa đệm cột sống thắt lưng Vì vậy, nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân các chứng bệnh đau cổ – vai, đồng thời điều trị và dự phòng các chứng bệnh này là một yêu cầu cấp thiết đối với đời sống xã hội, đòi hỏi sự kết hợp của nhiều chuyên ngành nội, ngoại khoa, điều trị lý liệu- phục hồi chức năng.

Phòng và điều trị đau cột sống cổ

a) Điều trị nội khoa

– Paracetamol: đây là lựa chọn ưu tiên với sự cân bằng giữa tác dụng phụ và hiệu quả mong muốn. Có thể đơn chất hoặc phối hợp với các chất giảm đau trung ương như cocain, dextropropoxiphene…

– Tramadol: có hiệu quả, chỉ dùng khi không đáp ứng với nhóm giảm đau nêu trên và tránh dùng kéo dài.

– Nhóm thuốc giảm đau chống viêm không steroid liều thấp: các dạng kinh điển (diclofenac, ibuprofen, naproxen…) hoặc các thuốc ức chế chọn lọc COX-2 (celecoxib, etoricoxib…)

– Thuốc giãn cơ.

– Nhóm thuốc chống thoái hóa tác dụng chậm.

– Các thuốc khác: khi bệnh nhân có biểu hiện đau kiểu rễ, có thể sử dụng phối hợp với các thuốc giảm đau thần kinh.

– Tiêm Glucocorticoid cạnh cột sống: có hiệu quả từ vài ngày đến vài tháng.

b) Phục hồi chức năng

– Cần thực hiện các bài tập vận động vùng cổ, đặc biệt với bệnh nhân đã mang nẹp cổ thời gian dài, bệnh nhân có công việc ít vận động vùng cổ.

– Nghỉ ngơi, giữ ấm, tránh thay đổi tư thế cột sống cổ đột ngột.

– Các liệu pháp vật lý trị liệu: sử dụng nhiệt, sóng siêu âm… Có thể kéo dãn cột sống cổ song nên thực hiện với mức độ tăng dần từ từ.

c) Điều trị ngoại khoa

Chỉ chỉ định áp dụng trong các trường hợp: có biểu hiện chèn ép rễ thần kinh hoặc tủy sống tiến triển nặng, trượt đốt sống độ 3-4 hoặc đã thất bại với điều trị nội khoa và phục hồi chức năng sau 03 tháng.

Dự phòng đau cổ cục bộ

Cần có chế độ nghỉ tương đối, tránh mang vác, xách vật nặng, nhất là không cân đối (một bên nặng, một bên nhẹ), tránh làm việc mệt nhọc. Tránh giữ lâu cổ ở tư thế ưỡn cổ ra sau, cúi cổ ra trước, hay nghiêng cổ về phía bên.

Tùy theo hoàn cảnh, trong một ngày người bệnh cần nằm 3- 4 lần, mỗi lần từ 15 phút đến nửa giờ với tư thế nằm ngửa và phải có một cái gối nhỏ hình trụ để lấp khoảng trống giữa ba điểm tỳ sau (u chẩm và hai vai).

Tránh ngồi xe đường dài, nhất là với loại ghế không có tấm đỡ cổ và lưng. Trường hợp đặc biệt không có điều kiện nghỉ và giữ tư thế cổ như đã nói trên, người bệnh cần phải đeo một vòng cổ chỉnh hình.

Vậy nên khi bị đau cột sống cổ nghi ngờ thoát vị đĩa đệm, nên tìm đến thầy thuốc chuyên khoa để được thăm khám chẩn bệnh chính xác nhất tránh những biến chứng nguy hiểm có thể gặp phải của căn bệnh này.